Cơ thể có những giới hạn mà tâm trí không có. Ví dụ, trong cuốn sách này, từ reading (đọc) đã được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau: (1) đọc để giải trí, (2) đọc để lấy thông tin, (3) đọc để hiểu biết. Chúng tôi gọi những câu hỏi về sự tồn tại và những điều xảy ra trên thế giới hay về những điều mà con người nên làm hay nên tìm kiếm là các câu hỏi hạng nhất.
Vì thế, cho dù bạn đọc cái gì, ít nhiều cũng cần có tính tích cực. Có một thực tế mà không phải ai cũng nhận thấy là bạn cần phải có một lượng kiến thức khá lớn nếu muốn sử dụng tốt sách tham khảo. Việc đọc qua cuốn sách không giúp bạn hiểu hết được tính phức tạp của chủ đề hay toàn bộ ý tứ sâu xa mà tác giả gửi gắm, nhưng nó sẽ thực hiện hai chức năng chính.
Cấp độ bốn, cũng là cấp độ cao nhất của việc đọc, được gọi là đọc đồng chủ đề. Dưới bản tay bậc thầy của Plato, văn phong này giúp phát triển sự tìm tòi, giúp người đọc tự mình khám phá. Thứ ba, trước khi tham khảo một cuốn sách, bạn phải biết rõ cuốn sách đó được kết cấu như thế nào, từ đó biết cách sử dụng nó.
Hãy đọc tiểu sử như đọc sách lịch sử, hãy xem những cuốn tự truyện một cách ý nhị và đừng quên là không được tranh luận về cuốn sách cho tới khi đã hiểu cặn kẽ nội dung sách. Người phương Tây có phần đúng khi nói rằng Kinh Thánh là cuốn sách có nhiều chứ không chỉ một ý nghĩa. Thông thường một cuốn sách có cấu trúc càng lỏng lẻo bao nhiêu thì các đoạn văn càng rườm rà bấy nhiêu.
Trong những trường hợp này, khả năng bạn tìm thấy một cuốn sách cơ bản, có thể tin được về vấn đề đó sẽ cao hơn. Nếu tác giả hoàn hảo và bạn là độc giả kiểu mẫu thì đề cương của cả hai sẽ giống nhau. hãy bắt mình theo kịp tốc độ của bàn tay.
Quyết định hay lựa chọn đều phải được đưa ra ngay, không có thời gian cho nhân vật suy nghĩ, cân nhắc hậu quả. Điều đó có nghĩa là đọc càng tích cực càng tốt, và bạn phải nỗ lực - sự nỗ lực mà bạn hy vọng sẽ được đền đáp lại. Bất kỳ ai muốn hiểu được lịch sử của khoa học, họ không những phải đọc mà còn phải làm quen với các văn bản cổ.
Đa số từ ngữ trong sách đều được các tác giả sử dụng theo phong cách hội thoại thông thường, với nhiều tầng nghĩa khác nhau. Nên đặt những vấn đề chung hơn trước các vấn đề ít chung hơn và chỉ rõ mối quan hệ giữa các vấn đề. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra vẫn là liệu có thể viết một tác phẩm triết học hay theo kiểu toán học như Spinoza từng làm hay viết một công trình khoa học theo kiểu đối thoại như Galileo đã cố thử không? Sự thật cho thấy, về phương diện nào đó, cả hai người đều đã thất bại trong việc truyền đạt những gì họ muốn truyền đạt và dường như chính hình thức họ chọn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại.
Cũng có một thực tế là nhiều người đọc quá chậm trong khi đáng lẽ ra họ nên đọc nhanh hơn. Nhưng ngay cả khi chúng tôi đã hiểu đúng ý bạn thì vẫn còn hai sự lựa chọn: chúng tôi có thể đồng ý hoặc không đồng ý. Đáng tiếc là trong nhiều lĩnh vực hệ thống từ chuyên môn chưa được đầy đủ và rõ ràng.
Do bị yếu tố văn hoá chi phối nên chúng ta có xu hướng ủng hộ nhà khoa học hơn là ủng hộ người nguyên thuỷ. Quan trọng hơn cả, nếu bạn thật sự muốn mình học tập tiến bộ, bạn sẽ biết sử dụng từ điển theo đúng ý định ban đầu của người biên soạn. Có thể chúng ta không bao giờ biết được sự thật, nhưng dù sao những chuyên luận của Aristotle vẫn là một kiểu văn phong mới trong triết học.
Đối với sách thực hành, mặc dù có sự so sánh giữa sách vở và thực tế, nhưng mối quan tâm chính vẫn là liệu mục tiêu của tác giả tức kết quả mà ông ta tìm kiếm cùng các phương tiện ông ta đưa ra để đạt được những mục tiêu đó có phù hợp với quan niệm của bạn không. Và mọi mối liên hệ tồn tại giữa từ và thuật ngữ cũng tồn tại giữa cụm từ và thuật ngữ. Không ai có thể tách hoàn toàn bản thân ra khỏi tác phẩm của chính mình.